ePhysicsvn | Lớp học trực tuyến

Trang chủDiễn đànLớp học trực tuyếnLiên kết Website
Thành viên
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Tự động đăng nhập

Bạn chưa là thành viên ?
Đăng ký tại đây!

Quên mật khẩu

Hội thoại
trantrunghuynh
Bao gio dien dan mo cua tro lai vay?

hoc_hay
sao dien dan cu dong cua hoai vay

hoc_hay
chan cac ban admin qua

nguyenhung
có ai ở đay ko

hoc_hay
sang choi nha toan

hoc_hay
vao

hoc_hay
do thi hinh TRAI TIM

rainbow
sao ko ai xoa may bai co noi dung xau vay

xuanbach
Minh muoc lam quen voi moi nguoi

xuanbach
Chao cac ban

Sorry, your account does not have access to submit information.

Các nội dung cũ
Trực tuyến
Số người đang truy cập: 2
0 thành viên | 2 khách

Số người cùng truy cập nhiều nhất là 72 vào ngày 26 - 06 - 2007 lúc 19:17 PM.

 
Tin tức
Hướng dẫn học và trả lời trắc nghiệm môn vật lý
Bởi admin
In   

TTonline

I - Các loại câu trắc nghiệm và những điểm lưu ý khi trả lời.

Câu trắc nghiệm vật lý có nhiều loại khác nhau: câu trắc nghiệm đúng sai, câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn, câu trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi, câu trắc nghiệm điền khuyết… Trong các kỳ thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh hiện nay đều dùng loại câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trong đó có cả câu trắc nghiệm lý thuyết và câu trắc nghiệm bài tập.

Câu trắc nghiệm lý thuyết là loại câu không yêu cầu thí sinh tính toán mà chỉ cần nắm chắc lý thuyết, và biết vận dụng nó vào trường hợp cụ thể để chọn phương án trả lời.

Ví dụ: Trong một đoạn mạch không phân nhánh, nếu dòng điện trễ pha đối với hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch thì trong đoạn mạch đó:

A. không có cuộn cảm

B. không có tụ điện

C. có điện trở thuần và cuộn cảm nối tiếp.

D. cảm kháng lớn hơn dung kháng.

Học sinh nắm vững tính chất của đoạn mạch RTC nối tiếp sẽ tìm thấy phương án A không thỏa mãn vì trong đoạn mạch này dòng điện cùng pha hoặc sớm pha đối với hiệu điện thế. Trong các đoạn mạch nêu ở phương án B và C, dòng điện có thể trễ pha đối với hiệu điện thế nhưng chúng chỉ là các trường hợp riêng, không thể khẳng định chắc chắn trường hợp riêng này sẽ xảy ra. Phương án cần chọn là D.

Câu trắc nghiệm bài tập là loại yêu cầu thí sinh phải vận dụng công thức hoặc lập phương trình để tính toán chọn đáp số cần tìm. Khác với toán trong câu tự luận, bài toán trong câu trắc nghiệm thường không dẫn đến hệ phương trình phức tạp, mà chỉ một hoặc vài ba phép tính là có thể tìm được đáp số hoặc khẳng định được đáp số là sai hay đúng.

Ví dụ: Một vật sáng nhỏ đặt vuông góc với trục chính của một thấu kính mỏng, cho ảnh ảo bằng 3 lần vật và cách vật 20 cm. Tiêu cự thấu kính là:

A. -15cm. B. 10cm. C. 15cm. D. 30cm.

Học sinh có thể nhận xét ảnh lớn hơn vật nên thấu kính phải là thấu kính hội tụ, tiêu cự có giá trị dương, do đó loại được phương án A, nhưng ba phương án còn lại đều là đáp số dương nên phải áp dụng công thức thấu kính để chọn đáp số đúng. Để tìm tiêu cự thấu kính ta cần tính d và d từ các phương trình: k = -d/d = 3; -d – d = 20cm. Sau đó tính được d = 10cm; d = -30cm, thay vào phương trình: 1/f = 1/d + 1/d sẽ tìm được f = 15cm. Ta chọn phương án C.

Trong các đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh, số câu trắc nghiệm bài tập thường nhiều hơn số câu trắc nghiệm lý thuyết.

Mỗi loại câu trắc nghiệm đều có thể có mức độ khó dễ khác nhau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Với các câu hỏi ở mức nhận biết, học sinh chỉ cần nhận ra một công thức, một định nghĩa, một định luật hoặc chỉ thay số liệu đơn giản là đã tìm được phương án trả lời. Tuy nhiên vẫn có một số học sinh không được điểm khi làm loại câu này do không nắm vững lý thuyết hoặc chủ quan không đọc kỹ câu hỏi. Các câu hỏi trắc nghiệm thường rải ra nhiều phần khác nhau của chương trình, không có trọng tâm, trọng điểm. Do vậy nếu học tủ và không rèn luyện để có một trí nhớ tốt, học sinh sẽ bị mất điểm ngay ở một số câu dễ.

Đối với câu trắc nghiệm ở mức độ thông hiểu, học sinh muốn chọn phương án đúng phải nắm được ý nghĩa của khái niệm hoặc sự kiện hiện tượng để suy luận, hoặc chuyển dịch nó từ mức độ trừu tượng này sang mức độ trừu tượng khác. Để làm được câu này, học sinh không chỉ nhớ và thuộc lòng máy móc mà cần có thói quen nhận xét sự vật, hiện tượng ở các trường hợp khác nhau.

Ví dụ: khi học công thức thấu kính: 1/f = 1/d + 1/d cần tự biến đổi để làm quen với công thức đó ở các dạng khác nhau như: d = df/ d-f; d = df/ d-f; f = dd/ d+d và các trường hợp đặc biệt: khi d = ∞ thì d = f; khi d = f thì d = ∞; khi d = 0 thì d = 0. Như vậy học sinh sẽ không ngỡ ngàng mà nhận ra ngay công thức này dù nó không được viết tường minh như ở sách giáo khoa.

Đối với câu trắc nghiệm ở mức độ vận dụng, học sinh muốn trả lời đúng phải nắm được bản chất sự vật hiện tượng và thường xuyên có thói quen áp dụng nó vào các trường hợp cụ thể, qua đó nắm được phương pháp vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học được. Vấn đề đặt ra trong câu trắc nghiệm ở mức vận dụng có thể là tình huống mới hoặc nhiệm vụ mới. Học sinh cần bình tĩnh, đọc kỹ câu hỏi để khai thác giả thiết cho ở phần dẫn của câu trắc nghiệm để suy ra các kết quả, rồi từ đó phát hiện mối liên hệ giữa giả thiết và kết luận.

Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nên nhiều câu trắc nghiệm vật lý liên quan đến vấn đề nảy sinh trong thực nghiệm hoặc trong thực tế. Sẽ rất có lợi nếu hằng ngày học sinh có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào đời sống. Ví dụ khi học về gương cầu, hãy quan sát ảnh qua gương lắp ở xe máy, xem ảnh ở gương này khác nhau thế nào khi vật ở xa, khi vật ở gần, từ đó nhận xét về tính chất ảnh và điều kiện tương điểm đối với gương cầu.

Khi học về thấu kính, hãy thử tìm cách ước lượng xem tiêu cự của kính đeo mắt mà em có hoặc người thân của em có là bao nhiêu. Những thói quen đó giúp học sinh dần dần nâng cao khả năng vận dụng kiến thức, giúp đạt điểm cao khi làm loại câu ở mức vận dụng.

II - Một số phương pháp trả lời câu trắc nghiệm thường dùng.

1. Phương pháp trả lời câu trắc nghiệm lý thuyết.

Đối với các phương án nêu trong câu trắc nghiệm lý thuyết, ta chỉ được chọn duy nhất một phương án, đó là câu đúng (nếu phần dẫn yêu cầu chọn câu đúng hoặc nối với phương án trả lời thành một câu hoàn chỉnh và đúng) hoặc câu phát biểu sai (nếu phần dẫn yêu cầu chọn câu phát biểu sai). Trong quá trình trả lời, ta thường gặp hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: nhận ra ngay phương án cần chọn và khẳng định chắc chắn điều đó. Nếu đối chiếu với yêu cầu của phần dẫn thấy không có sự nhầm lẫn, học sinh có thể chọn ngay phương án này mà không cần mất thời gian suy nghĩ nhiều về các phương án còn lại. Sở dĩ ta làm như vậy vì đề thi trắc nghiệm thường dài và có nhiều câu, ta phải dành thời gian cho các câu khác.

Trường hợp 2: không nhận ra ngay phương án đúng. Trong trường hợp này có thể dùng phương pháp loại trừ. Hãy đọc kỹ từng phương án để tìm ra chỗ vô lý nếu có của mỗi phương án và loại nó. Phương án còn lại là phương án được chọn.

2. Phương pháp giải câu trắc nghiệm bài tập.

Đối với câu trắc nghiệm bài tập, thường dùng ba cách giải sau:

- Sử dụng các giả thiết cho ở phần dẫn để áp dụng các công thức, lập và giải các phương trình như làm một câu tự luận, sau đó đối chiếu đáp số tìm được với các đáp số nêu trong phương án để tìm phương án cần chọn. Điểm khác với khi làm câu tự luận ở chỗ học sinh không phải trình bày lập luận hoặc các bước giải trung gian.

- Dùng phương pháp thử lại nghiệm để xác định nghiệm nào đúng và nghiệm nào sai. Phương pháp này thường dùng khi việc tìm ra đáp số trực tiếp khó hoặc dài.

- Dùng phương pháp loại trừ để loại các số sai, từ đó tìm ra phương án cần chọn. Các đáp số sai thường là:

+ Đáp số sai về đơn vị.

+ Đáp số chứa đựng các mâu thuẫn.

+ Đáp số bằng chữ, không đúng cho trường hợp đặc biệt.

Ví dụ: cho đoạn mạch có ba phần tử mắc nối tiếp gồm điện trở R, tụ điện có dung kháng Zc, cuộn dây thuần cảm mà độ tự cảm của nó có thể thay đổi trong một giới hạn rộng. Hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu đoạn mạch là U. Khi thay đổi độ tự cảm của cuộn dây, hiệu điện thế cực đại giữa hai đầu cuộn dây có giá trị cực đại là:

A. UR/√(Z2c +R2).

B. (U.(√(Z2c +R2))/R.

C. UR/2(√(Z2c +R2)).

D. (U.(√(Z2c+R2)))/2R.

Ta có thể nhận xét: trong trường hợp đặc biệt khi Zc = 0, có nghĩa đoạn mạch không chứa tụ điện thì hiệu điện thế trên cuộn dây có thể tiến đến giá trị lớn nhất là U nếu cảm kháng của cuộn dây rất lớn so với điện trở R. Vậy khi thay Zc = 0 thì ULmax = U. Các đáp số nêu trong phương án C và D cho giá trị ULmax = U/2 khi Zc = 0, không thỏa mãn điều kiện này nên bị loại. Hơn nữa, trong đoạn mạch RLC nối tiếp, hiệu điện thế trên tụ điện và trên cuộn cảm đều có thể có giá trị lớn hơn U. Đáp số nêu trong phương án A cho giá trị không lớn hơn U nên cũng bị loại. Do vậy, phương án cần chọn là B.



Xem góp ý (0)
News Archive
Tiêu đềNgười gởiNgày gởi
Hướng dẫn học và trả lời trắc nghiệm môn vật lýadmin10 - 04 - 2008
Ôn thi môn vật lí thế nào cho tốt?admin10 - 04 - 2008
Tổng hợp những điều cần biết về tuyển sinh Đại học 2008admin2 - 03 - 2008
Tuyển sinh 2008: Thí sinh có mấy nguyện vọng?admin20 - 02 - 2008
4 ẩn số “vàng” trong đề thi ĐH năm 2008admin20 - 02 - 2008
Các lò luyện thi ĐH vắng vẻadmin20 - 02 - 2008
Lá thư cuối năm gửi thầy Bộ trưởng: Cuối năm không nói ra, “tức mà chết”!MTâm4 - 02 - 2008
Mạng giáo dục của người Việt ABCD Onlineadmin25 - 01 - 2008
Tư vấn trực tuyến thi trắc nghiệm môn Sinh và Lýadmin21 - 01 - 2008
Tại sao học sinh không thể tập trung trong giờ học?vm_v200526 - 12 - 2007
Mô hình dạy học tương laivm_v200526 - 12 - 2007
Sẽ tiến tới học gì thi nấyadmin15 - 10 - 2007
Thư ngỏ gửi trẻ em tới trườngMTâm24 - 09 - 2007
Hãy mở cửa ra cho trẻ emadmin24 - 09 - 2007
9 chương trình bồi dưỡng nhân tàiadmin16 - 09 - 2007
Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài theo chu trình khép kínadmin16 - 09 - 2007
Gương sáng học tậpadmin31 - 08 - 2007
Test Online - Kiểm tra khả năng và kiến thức trực tuyếnadmin31 - 08 - 2007
Olympic Hóa học quốc tế: Việt Nam có một Huy chương VàngMTâm25 - 07 - 2007
Năm 2009: Chính thức bỏ thi ĐH, CĐMTâm25 - 07 - 2007



Next »

 
Bình chọn
Bạn có cho rằng chương trình PT hợp lí chưa ?

20.3%
Không nặng lắm

40.4%
Rất nặng

39.3%
Vừa sức

Tổng số bình chọn: 463
Thống kê diễn đàn
Số thành viên: 13407
Số chủ đề: 4129
Số bài viết: 5976
Số bài gởi nhiều bài nhất: nhung2806 (488 bài)
Thành viên mới đăng ký: Presidentnb
Số lượt truy cập
16877
Tin tức được xem nhiều
Tên bài:

Xem:

Đào tạo từ xa - học trực tuyến: Mô hình học trong thời đại mới
Bởi Nhựt Quang
116699

THI TRAC NGHIEM 2007
Bởi Minhtam
68225

Sử dụng phần mềm dạy học thí nghiệm ảo
Bởi Mtâm
67859

Giơi thiệu các đề thi thư Trắc nghiệm (Bộ GDĐT)
Bởi admin
55662

Người thổi lửa cách mạng giáo án điện tử
Bởi Minh Tâm
36637

 
Xem tốt nhất ở mọi độ phân giải - Thiết kế và phát triển bởi ePhysicsvn tháng 8-2005